LeoX đang tính viết đủ series bài về bộ lọc thì vì chút không may phải nằm viện 1 thời gian. Hôm nay thì đã chính thức được ngồi lại máy tính mà không sợ người thân dọa cắt điện rồi hihi :D
Trước khi vào thẳng nhóm 2: Nhóm tiêu chí định giá. LeoX giải thích một chút với về cách tính tăng trưởng trung bình 3 năm ở nhóm 1: Tiêu chí tăng trưởng ở phần trước. Nhờ bạn Hoàng Anh có ý kiến về việc tại sao không tính CAGR mà tính trung bình thẳng 3 năm mà LeoX nhớ ra chưa giải thích về yếu tố này.
Tiêu chí trung bình 3 năm tại leox.vn được tính là trung bình thẳng, tức là tính trung bình tăng trưởng của mỗi năm. Cụ thể năm thứ 2 tăng bao nhiêu % so với năm thứ 1, năm thứ 3 tăng bao nhiêu % so với năm thứ 2, và năm thứ 4 tăng bao nhiêu % so với năm thứ 3. Sau đó là tính trung bình tăng trưởng của 3 năm đó. Cách tính này gọi là AAGR. Cách tính này sẽ cho ra kết quả khác đôi chút so với cách tính CAGR theo công thức (LN năm 4 / LN năm 1) ^ (⅓) - 1. Cả 2 cách tính thường cho ra kết quả xấp xỉ nhau và đều có ưu và nhược riêng. Tùy mục đích mà sử dụng cách tính nào hoặc cũng có thể xem xét để đưa vào cả 2.
Lý do leox.vn chọn cách tính trung bình thẳng vì đây là một tiêu chí combo trên leox.vn. Khi bạn chọn nhóm tiêu chí này sẽ có một dấu (+) để mở ra cho bạn 3 cột phụ cho tăng trưởng của từng năm một. Nghĩa là 1 tiêu chí này tương đương với 4 cột, 3 cột tăng trưởng của 3 năm gần nhất để bạn nhìn pattern, và 1 cột trung bình của 3 năm để cho mục đích lọc mà không bị bias. Nhìn pattern tăng trưởng rất quan trọng, vì nó có thể cho thấy chất lượng mô hình kinh doanh của doanh nghiệp là gì, loại cyclical hay loại doanh nghiệp tuyệt vời như đã phân loại trong bài này.
Lấy ví dụ như hình dưới đây: case 1, 2 , 3 sẽ không cho kết quả quá khác biệt giữa 2 cách tính AAGR và CAGR . Tuy nhiên ở case doanh nghiệp cyclical là case 4 (mà ở VN thường khá nhiều) thì AAGR cho ra kết quả 9%, nhưng CAGR lại cho ra kết quả 0%.
| Năm | Case 1 | Case 2 | Case 3 | Case 4 | ||||
| Year 1 | yoy % | 100,000 | yoy % | 100,000 | yoy % | 100,000 | yoy % | 100,000 |
| Year 2 | 10% | 110,000 | 20% | 120,000 | 10% | 110,000 | 50% | 150,000 |
| Year 3 | 10% | 121,000 | 10% | 132,000 | 18% | 130,000 | 20% | 180,000 |
| Year 4 | 10% | 133,100 | 0% | 132,000 | 38% | 180,000 | -44% | 100,000 |
| AAGR | 10% | 10% | 22% | 9% | ||||
| CAGR | 10% | 9.70% | 21.64% | 0.00% | ||||
Bộ lọc tại leox.vn tự xây dựng nên sẽ có đặc điểm là có thể customize theo ý muốn để phục vụ X-team cũng như thành viên đi chung con đường tùy vào mục đích sử dụng chứ không nhất thiết phải theo thông lệ. Do đó rất welcome các bạn đặt câu hỏi và đưa ý kiến xây dựng cải thiện giúp nó hữu ích hơn. Các ý kiến đóng góp sẽ được ghi nhận tại mục góp ý tại thanh menu, nếu thực sự hữu ích sẽ được build in vào công cụ của web vào để mọi người cùng được sử dụng.
Tuy nhiên, các thành viên cũng lưu ý là không có sự đúng sai một cách tuyệt đối do đó nên tránh các tình huống tranh luận đúng sai theo kiểu người nói 6, người khăng khăng bảo 9 nhé. Không nhất thiết tôi đúng có nghĩa là bạn sai, hay tôi sai thì bạn đúng, chỉ đơn thuần là cách nhìn hay mục tiêu sử dụng khác nhau thôi.
Nhóm 2: Tiêu chí định giá
Quay trở lại với Nhóm tiêu chí số 2: Nhóm tiêu chí định giá. Đây có lẽ sẽ là nhóm được quan tâm nhiều nhất trong các nhóm. Cũng phải thôi, vì sau những đánh giá về tăng trưởng, về kinh doanh, thì cuối cùng vẫn là giá có hợp lý hay hấp dẫn để mua hay không.
Các phương pháp định giá đều xoay quanh 1 trong 3 phương pháp. (1) Phương pháp so sánh (2) Phương pháp dòng tiền (3) Phương pháp tài sản.
3 phương pháp định giá trên được giới thiệu trong bài này. Trong bài đó có kết luận Phương pháp phù hợp nhất với Nhà đầu tư cá nhân không chuyên, và cũng hiệu quả nhất là (1) Phương pháp so sánh. Các tiêu chí lọc trong bảng dưới đây hầu hết là tiêu chí thuộc nhóm định giá theo phương pháp so sánh.
Danh sách các tiêu chí cụ thể của nhóm 2 - Tiêu chí định giá như sau:
| STT | Tên tiêu chí | Diễn giải |
| 1 | Earning yield quý gần nhất | Tính trên quý gần nhất, doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu % lợi nhuận so với mức giá thị trường hiện tại. |
| 2 | Earning yield lũy kế đến quý hiện tại (Nếu năm hiện tại chưa có dữ liệu --> để rỗng) | Tính lũy kế từ đầu năm đến quý gần nhất, doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu % lợi nhuận so với mức giá thị trường hiện tại. |
| 3 | Earning yield 4 quý gần nhất | Tính 4 quý gần nhất, không cần theo năm tài chính, doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu % lợi nhuận so với mức giá thị trường hiện tại. |
| 4 | Earning yield năm gần nhất (Tổng 4 quý của năm tài chính gần nhất) | Trong năm tài chính gần nhất, doanh nghiệp kiếm được bao nhiêu % lợi nhuận so với mức giá thị trường hiện tại. |
| 5 | PB hiện tại (Price to book) (lấy theo quý gần nhất) | Mức định giá của doanh nghiệp hiện tại cao hơn/ thấp hơn bao nhiêu (lần) so với giá trị tài sản của doanh nghiệp đó. |
| 6 | Price to cash (lấy theo quý gần nhất) | Mức định giá của doanh nghiệp so với lượng tiền mặt mà doanh nghiệp có . |
| 7 | Price to CFO ratio | Mức định giá của doanh nghiệp, so với dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó |
| 8 | Price to FCFE ratio | Mức định giá của doanh nghiệp, so với dòng tiền tự do của doanh nghiệp đó |
| 9 | Price to sale ratio (năm gần nhất) | Mức định giá của doanh nghiệp so với quy mô doanh thu của doanh nghiệp đó |
| 10 | PEG ratio | Mức định giá của doanh nghiệp so với lợi nhuận có cân nhắc đến tiềm năng tăng trưởng trong tương lai. |
| 11 | NCAV/Marketcap (qúy gần nhất) | Net Net approach - Benjamin Graham : Liệu mua đứt doanh nghiệp, rồi dùng hết tài sản thanh khoản của doanh nghiệp để trả nợ thì tôi có lời không? |
| 12 | Dividend yield | Nếu mua để hưởng cổ tức, thì tôi sẽ nhận được bao nhiêu phần % từ cổ tức khi mua ở doanh nghiệp ở giá thị trường hiện tại. |
Nhóm 4 tiêu chí đầu tiên ở bảng trên là tiêu chí earning yield theo các khung thời gian. Earning yield đã được đề cập đến tại bài viết này, cũng như lý do tại sao leox.vn prefer sử dụng earning yield thay cho chỉ số PE.
Earning yield được tính bằng Lợi nhuận/ Market cap. Trong đó lợi nhuận được tính theo các khung thời gian (1) Quý gần nhất (2) Lũy kế các quý đã có của năm hiện tại (3) quý gần nhất (trailing) và (4) Năm gần nhất. Còn market cap là giá trị thị trường của doanh nghiệp.
Các khung thời gian có nhiều lựa chọn vì nhu cầu mỗi thời điểm khác nhau. Thông thường nhiều người sẽ sử dụng khung thời gian là tổng 4 quý gần nhất. Tuy nhiên ở thời điểm ra BCTC quý 2 như hiện tại ta có thể tìm theo earning yield quý để tìm các doanh nghiệp có định giá hấp dẫn nhờ vào KQKD quý 2.
Nói nôm na, earning yield cũng tương đồng như cách bạn tính rental yield với Bất động sản. Nếu bạn mua một cái nhà với giá 1 tỷ đồng và thu được tiền thuê hàng năm là 60 triệu thì rental yield là 60 triệu/ 1 tỷ = 6%.
Earning yield đối với cổ phiếu cũng tương tự như vậy . Nếu doanh nghiệp có giá trị thị trường là 100 tỷ và doanh nghiệp đó kiếm được 10 tỷ mỗi năm thì earning yield của doanh nghiệp đó là 10/100 = 10%.
Do đó, bằng cách nhìn earning yield ta có thể so sánh định giá 1 cổ phiếu với hàng loạt tài sản chứ không chỉ riêng gì các cổ phiếu với nhau. Từ đó khái niệm về đắt hay rẻ càng trở nên rõ ràng hơn.
Tất nhiên earning hay lợi nhuận chỉ là 1 cách nhìn, cái quan trọng là chất lượng của earning có đủ tốt hay không, hay liệu earning đó có khả năng tăng trưởng hay không. Do đó cần dóng chiếu sang các tiêu chí khác cũng như cần tìm hiểu sâu hơn về mô hình kinh doanh của công ty mới hiệu quả.
Hai tiêu chí bạn có thể nhìn dóng chiếu đi kèm với earning/ lợi nhuận là tiêu chí số 7 và tiêu chí số 8 : Price to CFO và Price to FCFE.
Nếu như earning = lợi nhuận có thể không đáng tin cậy vì 1 doanh nghiệp có thể xào nấu BCTC để có lợi nhuận tốt. Ví dụ như công ty có thể nguỵ tạo một giao dịch bán hàng cho công ty liên quan để ghi nhận doanh thu, lợi nhuận trên báo cáo tài chính, nhưng thực tế là bán nợ tiền chứ chưa (hoặc không) thu được dòng tiền về.
Do đó Price to CFO (dòng tiền từ hoạt động kinh doanh) hay Price to FCFE (dòng tiền tự do) sẽ đáng tin cậy hơn so với lợi nhuận vì dòng tiền rất khó xào nấu so với lợi nhuận.
Cách nhìn tiêu chí số (9) : Price to sales thường áp dụng với các công ty mà mà thị phần rất quan trọng, ví dụ như bán lẻ. Mức độ phủ của sản phẩm trên thị trường phản ánh trên doanh số là cái mà nhà đầu tư dài hạn muốn nhìn đến. Nói một cách nôm na cho dễ hiểu, ví như câu “Phong độ là nhất thời, đẳng cấp là mãi mãi”, thì với nhóm doanh nghiệp kiểu này có thể biên diễn thành: “lợi nhuận là nhất thời, thị phần là mãi mãi” - do đó Price to sale lại là tiêu chí quan trọng để so sánh.
Ở một số thời điểm ta sẽ muốn nhìn tiêu chí thứ 6: Price to cash. Tiêu chí này được tính bằng Market Cap / Tiền của doanh nghiệp (bao gồm cả tiền gửi có kỳ hạn). Doanh nghiệp có chỉ số này thấp có nghĩa là công ty đang có nhiều tiền mặt và định giá đang ở mức hấp dẫn hay không so với lượng tiền mặt của công ty.
Các bạn ở con đường số 2 (đọc bài : Các con đường trong đầu tư) thì có thể sẽ thấy hứng thú với tiêu chí này. Ở một số thời điểm xấu của thị trường, bạn có thể tìm thấy 1 số doanh nghiệp mini bị bỏ quên mà market cap của nó bằng luôn tiền mặt. Nghĩa là nếu bạn mua đứt được công ty này với giá thị trường thì sở hữu luôn số tiền mặt bằng cái giá bạn đã trả , chưa kể được tặng kèm cả tài sản ngắn hạn và dài hạn. Tất nhiên bạn sẽ cần nhìn cụ thể hơn về doanh nghiệp chứ không hẳn là lọc ra là mua được luôn nhé.
Hoặc đối với nhóm DN lớn, sử dụng 1 cách dóng chiếu với tiêu chí khác bạn cũng thấy được tình trạng của doanh nghiệp : ví dụ như rất cash cow (mô hình kinh doanh tạo tiền tốt), hoặc cũng có thể đang bế tắc về hướng tăng trưởng do chưa tìm được hướng đầu tư.
Tiêu chí số 5 và tiêu chí số 11 đều là nhóm dành để lọc tìm định giá rẻ theo phương pháp tài sản đã nói đến trong bài này.
Tiêu chí số 5 : PB = Price to Book giúp bạn tìm được những doanh nghiệp rẻ so với giá trị sổ sách. Tất nhiên bạn sẽ cần đi tìm hiểu sâu hơn về chất lượng tài sản liệu có chất lượng không hay đã bị kê khống giá trị trên sổ sách hoặc liệu tài sản đó liệu có tạo được lợi nhuận trong tương lai hay không. Bạn sẽ phải buộc phải xem BCTC của công ty và tìm hiểu thêm thông tin để trả lời câu hỏi này.
Còn tiêu chí số 11: NCAV/ Market cap là một tiêu chí kinh điển của Benjamin Graham (người thày đầu tiên của Warren Buffet) để tìm những doanh nghiệp rẻ đến mức mà nếu bạn mua đứt nó, dùng hết tài sản ngắn hạn để trả nợ thì vẫn còn lãi so với số tiền bạn đã bỏ ra mua. Đây là nhóm tiêu chí mà chắc các bạn thuộc nhóm con đường số 2 sẽ thích vì thường sẽ khai quật được những con cổ phiếu bị thị trường bỏ quên, nhất là trong bối cảnh thị trường sập hay bị quá bán.
Tiêu chí số 10: PEG là chỉ số PE đi kèm với tăng trưởng. Một doanh nghiệp có thể có PE cao hơn nhưng nếu tăng trưởng đều đặn ở mức tốt sẽ hấp dẫn hơn một doanh nghiệp có PE thấp mà không tăng trưởng hoặc tăng trưởng âm. PEG được tính bằng cách lấy PE trailing 4 quý chia cho tăng trưởng quá khứ trong 3 năm gần nhất. Thực ra sẽ tốt hơn nếu bạn sử dụng tăng trưởng dự báo trong tương lai, tuy nhiên về mặt dữ liệu thì không thể làm được như vậy cho hàng ngàn cổ phiếu.
Tiêu chí số 12: Dividend yield sẽ quan trọng với những bạn thích đầu tư cổ phiếu ăn cổ tức. Dividend Yield được tính bằng tổng lượng cổ tức công ty đã trả trong năm gần nhất chia cho market cap ở thời điểm hiện tại. Bạn nên sử dụng tiêu chí này dóng chiếu với tiêu chí earning yield hay P/CF để tránh trường hợp ăn được cổ tức nhưng lại lỗ về lãi vốn. Có những doanh nghiệp có dòng tiền dồi dào từ các năm trước hoặc từ việc bán tài sản nên mang ra trả cổ tức, nhưng lại bế tắc trong việc tăng trưởng lợi nhuận các năm tới dẫn đến việc thị giá cứ giảm dù công ty có thể trả mức cổ tức hấp dẫn.
Trên đây là các tiêu chí thuộc nhóm định giá được chọn lọc để đưa vào bộ lọc cổ phiếu tại leox.vn.
Phần tới LeoX sẽ viết tiếp về nhóm tiêu chí dòng tiền nhé.
Leox.vn vẫn đang ở giai đoạn chia sẻ kiến thức, con đường, công cụ dành cho những bạn ham tìm hiểu và muốn làm chủ con đường mình đi vẫn theo triết lý tặng cần câu chứ không đưa cá. Còn những bạn nào đọc thấy khó, ngại, hoặc đơn giản là không có thời gian và cần một giải pháp dễ dàng hơn chờ giai đoạn sau nhé.
Mà nói thật coi, bạn chọn con cá hay chọn cần câu? Hay chọn cả 2? :D Trả lời LeoX ở dưới bài này nhé.
